Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

ĐI THĂM MẸ

         Ai có mẹ đều phải thường xuyên đi thăm. Tôi đã vắng xa mẹ tôi 4 năm. Khi  đi thăm người, tôi đã có một hành trình ít có ai tưởng tượng ra được.
         Một lần chị tôi, trên đường đi về kinh tế mới Long Đất, ghé trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức để thăm tôi. Chị ấy kể tôi cho tôi nghe cái nơi mẹ tôi đang ở: Ngả ba kinh Quản Thống, Sóc Xoài, Hòn Đất, Kiên Giang - nơi tôi hứa chỉ sẽ đến sau khi tôi tốt nghiệp. Được nhà trường tiếp tục đào tạo từ tháng 9,1975, tôi quyết tâm tự lực- không để chuyện gia đình chi phối, không trở về gặp mẹ tôi cho đến khi thành đạt. Trong khi chờ nhận quyết định phân công của nhà trường, tôi đã xin phép ban quản lý ký túc xá để đi thăm bà mẹ ruột, ngày 12 tháng 9 năm 1979. Từ 4 giờ sáng, tôi đã có mặt tại xa cảng miền tây để sắp hàng mua vé xe Rạch Giá. Quá nhiều cầu nhỏ, quá nhiều ổ gà lớn và 2 cái phà quá tải đã khiến cho chuyến xe chậm hơn nhiều so với mong muốn rất thông thường của đứa con đi thăm mẹ như tôi. Đến 4 giờ rưởi chiều, tôi mới đến bến xe Rạch Giá. Biết không còn kịp đò, tôi đi xe lôi về bến xe Lam. Chờ thêm vài người hành khách đi trể, bác tài mong kiếm thêm vài đồng bạc lúc cuối ngày. Tôi ước gì có được khoảng tiền ấy để tôi yêu cầu ông ấy cho xe lăn bánh sớm hơn. Ngoài trời chuyển mưa rất to còn trong lòng tôi thì có nỗi lo rất lớn. Nếu tôi không tìm được nhà mẹ tôi đêm nay, rất có thể tôi được xem như một kẻ xấu, như một tên tù vượt ngục.
Chiếc xe Lam khiến tôi khổ sở hơn chiều tối hôm đó. Nó cà giật cà giật như một con gà bệnh,mắc giây thun, như gã say rượu chân hươu đá chân nai. Cơn mưa đổ xuống như thác nước lớn trong mùa mưa. Hai bên đường không có một bóng người hay xe cộ nào khác. Những ánh đèn dầu lù mù loé ra khỏi các khe cửa hớ hênh hoặc các vách lá tềnh toàng làm cho tôi thêm lo sợ. Trên xe có cả thảy 7 người. Họ đã quen với các chuyến xe chót như thế trong khi, với tôi, đó là chuyến xe kinh hoàng nhất tôi từng đi. Tiếng máy xe nổ vang, trộn lẩn trong tiếng sấm chớp, tiếng mưa rơi nặng hạt đập lên nóc mui xe, tiếng gió rít qua các khoảng cách giửa các ô cửa kéo và tiếng đập hoảng loạn trong tim tôi tạo ra một bản hoà tấu kinh dị nhất trong thế giới âm nhạc. Để tự trấn tỉnh tôi cố hình dung ra mẹ tôi lúc ấy. Bà có thể ngồi bên bếp lò- được lê bằng các viên gạch thẻ, chụm các bó rôm nhỏ, các khúc gỗ đước trong một cái chòi lá thấp nhỏ bé, không cửa sổ, không có gian, buồng hoặc bàn ghế gì cả. Bà cũng có thể nằm thở dài trên một cái giường- nẹp tre là cái vạc giường, miếng đệm bằng lát thay cho miếng mệm, bốn khúc gỗ tràm to bằng bắp chân làm chân giường- cái giường ít có một hoạ sĩ trẻ tuổi nào có thể vẽ ra được.
Khi đó tôi thèm được đi trên cái xe đò 52 chổ ngồi lao vun vút lúc xuống mấy con dốc trên quốc lộ 20 đi Bảo Lộc. Tôi ước chi có một phép mầu đẩy chiếc xe lam củ kĩ chậm chạp chết tiệt này thật nhanh đến cái kênh Quản Thống gì đó để tôi gặp mẹ tôi ngay tức khắc. Một người khách xuống xe dọc đường mang làm vơi đi một ít tải trọng nhưng lại chất thêm lên một ít hoang mang lo lắng. Một người khách nào đó ngoắt xe dừng lại- cũng là có thể là kẻ ngoắt tôi lại để hỏi như tát nước vào mặt tôi:
“Đi đâu vào giờ này hả? Xuống đây làm gì hả”  
Dọc theo đừơng bộ đi Hà Tiên là một con sông dài song song. Từ Rạch Giá, cứ mỗi 3 hoặc 5 kí lô mét là một cây cầu- cầu số một- cầu số hai. Tôi hỏi thăm mới biết rằng kinh Quản Thống nằm khoảng 2 phần ba tính từ cầu số 3 đến cầu số 4- chợ Sóc Soài. Thẳng góc về phía Long Xuyên là các con kinh nhỏ, một đầu ra biển còn đầu kia dắt vô khu tứ giác Long Xuyên. Về bên phía đầu kinh đổ ra biển là khu vực dân cư của người Kh’mer và một số hộ nông dân nghèo.
      Chiếc xe qua cầu số hai một cách khá vất vả. Khi xuống dốc cầu, nó chạy nhanh hơn nhiều. Vượt qua chợ Mỹ Lâm vắng ngắt, rồi chốc sau nó đổ lại bến xe. Mọi người trong chiếc áo mưa lục đục xuống xe, không một tiếng chào, không một tiếng cám ơn. Bước xuống xe nhanh nhẩu, mình trần, đầu trần, mặc cho nước mưa tạt rát trên gương mặt còn búng ra sữa của tôi, tôi hỏi ông tài xế hom hem, đang co ro trong cái áo khoát đẫm nước:
Từ đây đến kinh Quản Thống còn bao xa nữa vậy bác?”
“Khoảng 9 cây số.”
“ 9 cây số! Còn xe tàu gì đi đến đó không bác?”
“Trời tạnh ráo thì còn đón đò, xin quá giang được. Mưa giông như vầy thì vô phương.”
Ông ta, lộ vẻ nghi nhờ, đã hỏi nhỏ tôi:
“Cậu đi đâu giờ nầy có một mình vậy?”
“Cháu từ Sài Gòn về thăm mẹ cháu ở kinh Quản Thống, bên kia sông.”
“ Tôi cứ tưởng xuống đây để…gì gì đó chứ. Hồi nảy sao cậu không ngủ lại Rạch Giá? Giờ này vô đó ớn lắm. Nghé nhà tôi qua nghĩ lại qua đêm đi. Sáng có đò sớm. Nhà tôi gần đây nè.”
Tôi linh cảm như có mẹ tôi đang chong đèn chờ tôi. Tôi biết mẹ tôi có thể thức trắng đêm nay mong đợi tôi. Nếu tôi không đến được tối nay, mẹ tôi chắc vì buồn lo mà già đi vài tuổi, tóc bạc đi quá phân nửa. Tôi lễ phép từ chối rồi chào ông tài xế tử tế. Mặc cho mưa gió, tôi bước nhanh đi về phía trước.
Hai bên đường các căn nhà lá đóng cửa im ỉm. Ánh đèn dầu yếu ớt như cuộc đời của một kẻ đau bệnh. Tôi bước bì bỏm trên mặt đường có nhiều ổ gà, nay nằm chìm trong nước mưa. Có khi như tôi như trên đường, có lúc tôi như lội trong cái ao nhỏ. Đôi giày da từ thời ông ngoại tôi còn thanh niên có thể là một vật gia bảo của ai đó bổng trở thành một chứng nhân tội nghiệp cho chuyến độc hành của tôi. Tôi cảm thấy hai chiếc giày như tăng lớn lên một cở, da giày mềm nhũn. Cái ba lô tôi mang trên vai, mặc dù sũng nước trở nên nhẹ tênh như tôi đang cảm thấy mỗi khi vượt qua một đoạn đường.  Sau hai kí lô mét đầu, tôi vượt qua vài chùm tre tầm giông nơi mà bóng tối trở nên khủng khiếp, nơi mà ai có cũng có thể nghĩ ra những điều tệ hại, ma quái nhất. Mỗi khi có sấm sét, ánh sáng từ bầu trời rọi rất nhanh xuống như để ra hiệu cho tôi, thúc đẩy tôi và cảnh cáo tôi. Một tay bất luơng nào đó bất kỳ có thể bất ngờ chạy vồ ra nắm lấy tay tôi, lôi tôi xuống chiếc xuồng tam bản ọp ẹp và chèo thẳng đến một nơi hẻo lánh nào đó như một vụ bắt cóc ngoạn mục. Điều thú vị nhất là không có ai trả tiền chuộc. Nếu có lục soát hết người tôi, tên bắt cóc có thể tìm ra một số tiền mua được một bao thuốc lá đen.  
Có một luồn điện khá mạnh chạy suốt cơ thể tôi như thể tôi bị sét đánh vậy. Tôi muốn vụt bỏ chạy khi tôi nghe tiếng nổ giòn tan của một chiếc xuồng máy gần đó, tiếng máy rất to. Tôi định la to lên để át tiếng mưa, tiếng động cơ:
“Ai đó cho tôi quá giang với.” hoặc “Cứu tôi với.” hay rất tội nghiệp:
“Tôi đi thăm mẹ tôi ở kinh Quản Thống, tôi không phải là kẻ xấu. Làm ơn giúp tôi với!” 
Tội nghiệp tôi ư? Ông trời gầm một cái thật to, át tiếng kêu của tôi. Tiếp theo là tiếng khởi động của chiếc xuồng máy, bỏ tôi lại một mình trên đường vắng trong cơn mưa vẫn còn nặng hạt. Tôi tự vấn:
“Chẳng phải ta lâu nay bị bỏ rơi một mình hay sao? Chẳng phải ta đã một mình vượt qua biết bao gian khổ hay sao? Chẳng phải ta vừa trải qua 4 năm học Đại Học với một ít tiền học bổng nhưng với quá nhiều khó khăn. Nếu người chiến sĩ nào đó sống sót được trong rừng một thời gian trước khi bị bắt, ta cũng có thể đi bộ nhanh đến Kinh Quản Thống ấy trước khi bị ai đó chụp bắt.”
    Tôi như tiếp thêm sức mạnh. Tôi như được một liều thuốc tiên. Tôi như trẻ lại 5 tuổi. Tôi muốn chạy thật nhanh đến cái kinh chết tiệt ấy, vừa chạy vừa la:
“Con về đây mẹ ơi! Con về đây mẹ ơi!”.  
Vừa đến đầu kinh, thay vì hỏi nhờ ai bơi xuồng qua sông, tôi muốn nhảy đùng xuống và bơi ngay qua sông. Tôi muốn ôm ghì lấy mẹ tôi và cả hai cùng khóc nức nở. Cả hai cùng không nói ra được một lời nào.
    Qua cầu số ba, trời vẩn còn mưa to, tôi vẩn một mình trên đường. Tôi thấy nhà dân rất thưa thớt. Kinh Kiên Hảo thẳng tắp hướng về phía đất liền, hướng bên tay trái đổ ra biển. Bên phải con đường, ít có nhà, chòi lá nên quang cảnh sáng sủa hơn. Tôi không hề thấy mỏi mệt hay đói khác. Cái cảm giác đến nhà, gặp mẹ làm tôi quên hết mọi thứ. Tôi bền bỉ như một lực sĩ đi bộ đường trường. Tôi biết đôi giày sắp rời ra từng mãnh. Tôi biết có ai đang sắp đuổi bắt tôi. Tôi hình dung mẹ tôi đang ngóng chờ tiếng gọi đò của tôi. Tôi vượt qua đoạn đường 3 kí lô mét như người ta tản bộ trong một công viên nhỏ. Khi thấy một cụm mái nhà lá san sát nhau và bên kia sông có một kinh nhỏ, tôi tự nhủ chắc là đây rồi. Tôi đi nhanh hẳn lên như có ma đang đuổi theo ở ngay sau lưng. Tôi bổng la lên thật to- tiếng của ai đó kêu cứu lúc nửa đêm:
“Bà Sáu ơi! Bà Sáu ơi.”
Một cánh cửa phên nhích lên khi có một giọng bên trong phát ra:
“Ai kiếm bà Sáu giờ nầy vậy hả?”
“Dạ, dạ, tôi là con của bà Sáu nè. Dì làm ơn đưa tôi qua sông giùm nhe. Tôi xuống đây trể quá. Làm ơn nhe.”
  Đội nón lá lụp xụp, tay cầm cây dầm, người phụ nữ- như được mẹ tôi dặn dò trước nhiều lần- không hỏi, nói thêm điều gì nữa, cẩn thận bước xuống chiếc xuồng nhỏ được cột sát bên vách nhà và sẳn sàng đưa tôi qua sông.
     Tôi vội bước xuống, lòng nhẹ nhõm, vui như một du kích được đưa xuồng đưa vào khu an toàn, như người tù được đón sau một chuyến vượt ngục gian lao. Khi qua được hơn hai phần ba con sông, trời còn mưa, trong bóng tối đen như mực, tôi bổng buột miệng kêu lên:
“Mẹ ơi, mẹ! Mẹ ơi, mẹ! Con về đây mẹ ơi”.
Tiếng kêu từ trái tim của một con chim lạc đàn gọi mẹ.
Không ai từng nghe thấy. Không ai lập lại được như thế đâu!

Thu Thuỷ


                                           
   Ít có học trò con nhà nghèo nào có dịp cởi Honda SS 67 đi học như tôi, và cũng có rất ít ai như tôi, một học trò xấu xí, được một nữ sinh trẻ đẹp cười mỉm chi mỗi khi tôi lượn vòng xe qua mặt hay đối diện với nàng- Trần Thị Thu Thuỷ- lớp 6 Trường Trung Học Đoàn Thị Điểm- Cần Thơ.
   Chiếc xe cũ mà chị tôi đã nài nỉ được mẹ tôi mua lại của chú Thức, một người quen. Sau khi chị sử dụng được vài tháng thì đã chán hoặc không thấy thích hợp, cho nên đã ‘trùm mền’ lại cho nó hai tháng trước ngày tôi vào lớp sáu trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ.
   May mắn thay, tôi tự tập lái xe gắn máy một mình mà không có một lần té nào, không có một vết trầy trụa nào trên thân xe. Một hôm nọ tôi chạy xe đến đón mẹ tôi đi làm về. Ngồi yên sau xe để ý cách tôi chạy, mẹ tôi tin những gì bà đang nhìn thấy. Sáng sớm hôm sau tôi lại có dịp chở bà đến tận sở làm. Sau hai lần lái xe rất thuần thục và an toàn ấy, tôi được người cấp giấy phép sử dụng xe gắn máy bằng miệng. Ôi, tôi lại có thêm một điều may mắn khác nữa, đó là chị tôi không hề tị hiềm, ngăn cản. Tôi cũng không biết đây có phải là dịp để chị trao lại tôi cái trách nhiệm đưa rước mẹ hay không nữa. Nhưng dù sao, chiếc xe Honda  nầy cũng đã giúp tôi chinh phục được nàng Thu Thủy… của mình.
   Trong 47 học trò của lớp 6-A1, tôi khá đặc biệt, cao gầy, chạy xe Honda SS 67. Văn Thành Thông, tầm thước trung bình - con một tiệm vải lớn, chạy chiếc SS 66. Trần Hữu Trí, sún răng- con nhà binh, chạy chiếc xe Sash. Ba đứa tôi nổi lên như ba chàng ngự lâm pháo thủ. Nhóm ba thằng tôi, có 3 xe khác nhau, có ba cách chạy xe khác nhau, có ba nhân cách cũng khác nhau nhưng lại có chung một cách giải trí: chạy xe vòng vòng trước hoặc sau giờ học. Thằng Trí Sún lạng lách như làm xiếc. Văn Thông chạy xe đầm thắm, tránh né nhẹ nhàng tài tình. Tôi có khi bốc đồng, cất cao đầu xe, thắng lết bánh để xe quay ngược đầu 180 độ. Chúng tôi, ba thằng học sinh lớp 6 chạy xe gắn máy như thế đã khiến biết bao nhiêu người ngắm nhìn, tặc lưởi ganh tị, chửi rủa. Trong số những người ấy, tôi chỉ có nhận ra một nữ sinh của trường Đoàn Thị Điểm, trường “hàng xóm” với trường tôi, người có những điểm tương đồng thú vị. Tim tôi đánh vang như tiếng trống trường mỗi khi trông thấy nàng nhìn tôi mỉm cười. Trong giây phút đó tôi bỗng muốn mình biến thành Phù Đổng Thiên Vương. Tôi muốn chiếc SS 67 trở thành một con tuấn mã có hai cánh khoẻ mạnh để được chở nàng bay vút lên tận mây xanh.
   Tôi còn ước mơ rằng hai trường của chúng tôi mở cửa sớm hơn để tôi có thể chạy xe nhiều vòng hơn, để nàng đứng đó lâu hơn, cười với tôi nhiều hơn. Tôi ước sao bổng dưng hai chiếc xe của Văn Thông và Trí Sún biến mất để mình tôi tự do tung hoành. Nhưng tôi lại cũng muốn hai con ngựa sắt ấy đôi khi xuất hiện hộ tống chúng tôi khi nàng yên tâm lên xe tôi, và cũng để cho các nàng kiều diễm khác của trường nhìn nàng thèm thuồng.
   “Ê, Thành! Nàng đang cười với mầy đó Thành.”
   Thằng Trí Sún lạng xe lên, thích thú nói vào tai tôi. Tôi kiêu hảnh mỉm cười:
   “Thì còn ai vào đây nữa.”
   “Mầy bén thiệt nghe. Hê, vọt!”
   Hai đứa chúng tôi bất ngờ phóng xe thật nhanh về hướng đại lộ Hoà Bình, để lại cho Văn Thông phải ngửi hai làn khói trắng khét nghẹt. Vừa qua góc đường, quẹo ngược chiều gần vỉa hè, tôi thắng nhanh cho bánh xe sau trượt trên lớp cát bụi mỏng để chiếc xe quay đầu lại. Trí Sún nhìn tôi cười nghiêng ngửa:
   “Nghề quá ta!”
   Tôi mỉm cười phóng xe ngược chiều trong khi Văn Thông cũng vừa ôm cua chạy đến. Hai đứa phải né nhau hết cở mới tránh cho hai xe không phải tông vào nhau, và tôi vẫn tiếp tục lao nhanh về phía trước vì nàng của tôi kia rồi!
   Trong đám áo dài màu trắng, một con hạc màu bạc của tôi đang tỏa sáng! Nàng đứng đó chờ tôi, cho một nụ cười thật tươi khiến tôi nôn nao khoái chí, hồi hợp nhưng vẫn còn đủ bình tỉnh để liếc nàng thật nhanh. Cái cặp da, nàng đang ôm trước ngực, che lấp hơn phân nữa cái bản tên, tôi kịp nhận ra hai chữ cuối là Thu Thủy.
   Tiếng máy xe của Trí Sún làm tôi hơi giật mình. Tôi cố làm ngơ. Nhưng Trí Sún đã xuất hiện đúng vào lúc để cho tôi khoả lấp một cú sốc, nó hỏi:
   “Thằng Thông đâu rồi mậy?”
   “Nó chạy thẳng về cầu Tham Tướng rồi.
   “Ê mầy! Tao thấy nàng cười với mầy rồi đó, Thành.”
   Tôi đánh trống lảng: “Nàng có giận tao hông mậy?”
   “Đứng chờ nảy giờ và cười tươi như vậy mà giận cái gì?”
   “Ý tao hỏi thằng Thông kìa.”
   “Ai mà biết?”
   Hai đứa tôi không còn chú ý gì đến các chàng nam sinh  quần xanh dương áo trắng, hoặc các “con hạc trắng” khác đang đứng trước cổng trường Đoàn Thị Điểm nữa. Chúng tôi có một con đường riêng, có một kiểu riêng để chạy xe vòng vòng.
   Chiều hôm ấy, trên đường Ngô Quyền vẫn đông nghẹt học sinh của hai trường sau khi tan học, trong đám đông nữ sinh ấy, tôi biết có người dõi mắt tìm tôi để tặng một nụ cười. Và tôi đã hiên ngang, can trường, lách, chen, xẻ vào các nhóm học trò đó để tìm nàng Thu Thuỷ của mình chỉ riêng mỉm cười với tôi. 
   Tôi đã từng bị thầy Lực - dạy Sử ký cho một điểm‘zero’ đáng để đời, nhưng cũng được thầy Phi - dạy Toán - tặng cho một điểm ‘20’ duy nhất trong đời đi học. Bây giờ, tôi lại đang tìm một kỷ lục khác đó là một nụ cười của nàng Thu Thuỷ. Tôi không còn biết gì khác hơn là việc chạy xe len lỏi trong đám đông học sinh tan trường về, đảo mắt tìm kiếm. Ra đến đại lộ Hoà Bình, tôi phóng xe thật nhanh trong khi hít vào một hơi thở thật sâu để tự trấn tĩnh. Dòng người thưa dần trên đại lộ như tôi cảm thấy thư thả hơn trong lòng. Cái vòng chạy của tôi hàng ngày bổng trở nên ngắn ngủi êm ái hơn. Khi đến đầu ngả ba đường Minh Mạng, tôi phải chậm lại để nhường đường cho một nhóm học trò băng qua đường. Trời chiều chợt tắt nắng. Đâu đó trong đầu tôi chợt vang lên một tiếng kêu thánh thót:
   “Anh Thành ơi! Anh không nhận ra em sao?”.
   Đâu đó trong tim tôi phụt ra một dòng máu thật nóng. Toàn thân tôi nóng lên như bị đẩy đến trước một lò thiêu. Chiếc xe tự nhiên như chết máy, còn tôi thì như chết lặng. Kia rồi, nàng Thu Thuỷ đang hiện ra trước đầu xe, mỉm cười thật tươi. Tôi chỉ biết cười đáp trả rồi bổng biến thành dại khờ, đần độn, không biết phải làm gì nữa. Trong một giây khắc, cả thế giới này như ngưng vận động. Cả nàng và tôi bổng hoá ra thạch, mặt đối mặt nhìn nhau chỉ… mỉm cười. Khu vực giữa đại lộ bổng chuyển thành một khu hoa cỏ, một đồi dốc thoai thoải, một góc trời yên tĩnh. Khoảng cách vật lý của hai đứa tôi tự nhiên ngắn lại, một gang tấc. Tôi bị hút vào một cơn lốc mạnh và không có ai nhận thấy. Tôi bị nàng thôi niên và nàng bắt tôi đứng bất động giữa đường. Nàng Thu Thuỷ xinh xắn mỉm cười với tôi bổng trở thành một thiên thần. Hai đứa tôi được ban phép bay lên không như một cặp sứ giả của trời để đọc một thông điệp:
   “Loài người phải yêu thương nhau.” 
   Suốt mấy tháng liền, buổi đi học nào tôi cũng chạy xe lòng vòng đường Ngô Quyền, đại lộ Hoà Bình vào đầu giờ học hoặc sau lúc tan trường, để Thu Thuỷ và tôi được gặp nhau, mỉm cười với nhau.
   Mọi việc qua đi, tuổi thơ ngây trôi theo ngày tháng. Tôi đã phải giả từ lối lái xe vòng quanh để dành thời giờ sinh hoạt thể thao với các bạn cùng lớp cùng nhau luyện tập cho đội  bóng rổ trong trường.
   Sau đó tôi trúng tuyển vào lớp tám trường Nông Lâm Súc Cần Thơ rồi sau khi hoàn tất hai năm học tôi chuyển lên trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc… và tôi chỉ chú tâm vào việc học nên không còn dịp để Thu Thủy ngây thơ mỉm cười với tôi nữa.

HỒNG HẠNH- Phần 2

Dalat chứng kiến nhiều cuộc tình, cuộc chia tay- đoàn tụ hoặc tan vỡ và hôm ấy nó chứng kiến một cảnh ngộ éo le của tôi- một trong những học trò NLS Bảo Lộc- hiền lành chất phát và vô tội.
   Sau khi ăn tối tại một nhà hàng khá sang trọng ở Dalat, chúng tôi được đưa đến quán Lục Huyền Cầm và tối về tại cái quầy rượu xinh đẹp của khách sạn Lâm Sơn, số 5 đường Hải Thượng.  Bác tài xế khẩn khoản hoặc cố ý ép tôi uống rượu. Hạnh ngồi cạnh tôi rót rượu và mời tôi uống từng ly một. Cái chí khí của thằng thanh niên 18, cái quyến dụ của men rượu, của cái liếc mắt, nụ cười của Hạnh đã khiến tôi uống đến lúc tôi không còn biết gì trước sự chứng kiến cổ vũ của bà Hương, người mẹ sành sỏi, từng trải qua rất nhiều lần như thế.
Bao giờ Dalat cũng lạnh về đêm. Bao giờ và lúc nào khách lên Dalat cũng thấy lạnh lẻo cô đơn. Bao giờ tôi cũng ngũ thật ngon giấc khi lên đó. Rượu whisky trong cơ thể tôi không làm tôi quên cái giờ học tôi đã tập thành thục- 1 giờ sáng. Bừng tỉnh, tôi thấy mình được quấn chăn hoa ấm áp. Bừng bừng, rờn rợn nỗi gai óc, tôi vừa cảm thấy sự đụng chạm của cơ thể mát lạnh và mềm mại của phụ nữ. Tôi cũng vừa ngửi cái mùi thơm da thịt quyện trong một loại nước hoa quý phái. Cố kéo cái nếp chăn hoa được lòn chặt sau lưng, tôi nhìn ra được gương mặt của Hồng Hạnh với hai hàng nước mắt đã nhòe khô đi tự lúc nào. Biết tôi vừa tỉnh giấc, nàng vội ôm nghì lấy tôi. Trong tiếng khóc than, nàng nói thật nhỏ vào tay tôi,
“Em không biết phải làm sao nữa. Anh giúp em nhé?”
Dù bừng tỉnh ngay như bình thường, tôi không thể nào nhận ngay ra sự tình,
“Có việc gì thế, Hạnh!”
Hạnh òa lên nức nở như chưa bao giờ nàng được khóc trước đây. Những đau đớn hoặc mất mát, thiếu thốn hay thua thiệt, tủi hổ hay hờn tức đổ dồn vào nàng như các nguồn nước đổ vể hồ to, tuôn trào xuống thác lớn . Tôi đặt tay lên bờ vai lạnh, đang run nhẹ theo tiếng khóc của nàng. Là bạn học từ cấp tiểu học, lớn hơn tôi 2 tuổi, trải đời hơn tôi 20 lần, có hơn tôi những 200 thứ, Hạnh vừa nói vừa khóc, 
“Em lỡ có mang… Mẹ bày cho em cách này để tránh tiếng tai dị nghị. Em lên đây để dưỡng thai. Anh nhận là cha đứa bé nhé. Em rất cần anh giúp.”
Bật ngồi dậy, tôi thấy nóng rang như đang trong phòng sấy gỗ, như đang ở trong một trận hỏa hoạn và tôi như một người lính cứu hỏa phải giải cứu một người đang bị ngộp. Tôi cũng thấy lạnh như đang ở ngoài trời, đang đi trong mưa. Cả đời tôi, chưa hề có một người phụ nữ nào buồn phiền tôi và khóc trước mắt tôi như thế. Đến nay tôi chưa hề khiến một phụ nữ nào khóc như thế. Cả người tôi như tê dại. Căn phòng như đang xoay tròn. Miếng mệm êm ấp bổng trở thành một tảng băng lạnh cứng. Tôi bổng trở thành tên tội đồ hoặc kẻ ngộ sát. Tôi tự dưng dại khờ hoặc sáng suốt minh mẫn. Hồng Hạnh đang nằm cạnh tôi như một cái xác lạnh ngắt tự lúc nào. Tôi run rẩy, nói lắp bắp,
“Cái…cái ..gì?!”
Tôi không hề lợi dụng ai và cũng chưa hề bị ai lợi dụng. Tôi chưa hề từ chối giúp ai và cũng chưa có ai từ chối giúp tôi. Việc tôi nhận làm trưởng ban báo chí cho liên danh Nông Nghiệp là do chính Hoành Việt Hùng và Võ Thị Huệ đến tận nhà trọ tối hôm ấy nài nỉ tôi nhận lời hoặc họ bị trể hạng. Cái ly kỳ ở chổ trong liên danh Canh Nông chỉ có một tay Thủy Lâm là tôi thôi.
   Hạnh ôm tôi như người ta bấu víu cái phao cứu sinh. Nàng úp mặt trên ngực tôi, rồi nửa phần thân trần của nàng choàng ngang ngực tôi như một con trăn to sắp quấn con mồi ngon đang bất động. Cũng như bất cứ một kẻ sĩ nào, một đấng mày râu nào đó, một tay hảo hán nào đó, một Từ Hải nào đó, tôi đã rúng động.
“Mẹ và em tin rằng anh sẽ nhận lời làm đám cưới để khỏa lấp dư luận. Em sẽ ở đây chờ đợi. Cuối tuần, em cho xe đón anh lên đây với em nhé.”
Tôi rất mong những gì Hạnh nói ra là chuyện bịa đặt. Tôi mong sao tôi chỉ đang nằm mơ. Tôi tiếc phải chi đừng theo họ lên chiếc xe hồi trưa hôm qua. Tôi ước gì tôi đã không đứng trong lớp học để họ không tìm ra tôi. Tôi ước gì tôi là một người nào khác. Tôi muốn báo cho mẹ tôi biết ngay chuyện này để bà dạy bảo tôi phải làm thế nào. Tôi rắn giọng lại,
“Anh còn phải đi học!”
“Mẹ và em cũng rất muốn anh học xong. Nhưng anh có chắc sẽ làm được gì chứ?”
“Anh không chắc lắm. Nhưng anh phải vào đại học.”
“Em chúc cho anh được như thế. Nhưng anh có thể sống ở đây với em cơ mà.”
   Cái khách sạn này do mẹ nàng vừa sang nhượng lại của một người bạn. Đây là nơi vừa làm nơi ở cho Hạnh vừa làm nơi để bà núp trốn cái bộn bề, căng thẳng trong cuộc đua chen, tranh giành một mất một còn ở Sài Gòn. Sau khi rời Cần Thơ năm 1972, bà mẹ Hạnh, có sắc có tài, đã nhanh chóng phất lên nhờ hai cái snack bar ở khu Tân Sơn Nhất với sự che chở của một sĩ quan có tiếng ở Sài Gòn và bà đã biến Hạnh thành một phụ tá đắc lực. Nhiều gả đã phải trọc đầu, trắng tay vì hai mẹ con nàng. Trong khi tôi phải mài đủng quần ở trên ghế nhà trường NLS Bảo Lộc, rất vất vả để tìm một chổ để học ở đại học, thì Hồng Hạnh, ở Sài Gòn, thư thả moi thủng túi tiền của hàng tá tay sĩ quan trẻ tuổi để rồi có một kết cục mà cả hai mẹ con nàng cũng không hình dung ra được. Một hôm nàng biết mình mang bầu mà không biết do ai tạo ra. Vừa muốn tìm ra sự thật, Hạnh vừa nhận được nhiều lời đe dọa không cho nàng giữ cái bào thai ấy từ kẻ mang nhiều bông mai vàng trên cầu vai áo nhưng gả cũng lại mang cả gai góc đã nhuộm máu trong tim nữa. Tệ hơn thế, vị hôn thê của gã dọa sẽ cho mặt nàng có thẹo như Cẫm Nhung. Cả hai muốn xóa mất đi cái mà họ không muốn nhìn thấy- cái bào thai. Hai mẹ con của Hạnh phải lập tức rời xa Sài Gòn một lần nữa trên chiếc xe hơi họ mới tậu. Tôi tự dưng trở thành người họ chọn để bảo vệ hoặc như thể kẻ lót đường cho họ. Trong thời chiến tranh loạn lạc máu lửa như thế này, không dể dàng gì để có một nơi để trú ngụ, trốn tránh và có một công việc. Sau khi biết nhiều người đàn ông, sau khi lợi dụng họ- hoặc bị họ lợi dụng, chung sống với họ, Hồng Hạnh vừa nhận ra rằng thật khó tìm một người thanh niên cần cù, hiền lành, hiếu thảo và ham học như tôi. Mẹ nàng là một nhân chứng sống. Sau bao nhiêu lần mơ được hạnh phúc với kẻ này, người khác, sau bao nhiêu lần chia tay với tay này chung sống với một người lịch lãm rộng lượng khác, bà Hương nay quá mệt mỏi, quá ê chề. Hồng Hạnh là cái tài sản giá trị nhất bà có được và cái bài học lớn nhất bà học được là sự bình yên bà có thể có được với Hạnh ở đây và với một gã đàn ông mà Hạnh chọn. Như đã từng nhiều lần trước đây, bà Hương rất có thể làm mọi thứ có thể để biến điều ấy thành sự thật.
       Để có một nơi sống yên thân, có một đứa con, có một người chồng danh nghĩa mà nàng vừa tự lựa chọn, Hồng Hạnh đã chọn nơi này và nàng đã chọn tôi. Giống như suy nghĩ của nhiều người, “không ai biết ngày sau sẽ ra sao”, giống như Duyên Anh đã viết “mèo mù vớ cá ráng”. Khác với họ, tôi biết rằng tôi không phải là con mèo mù và tôi chẳng bao giờ thèm miếng cá ráng đó. Tôi cũng biết rỏ rằng mẹ tôi sẽ buồn lắm. Hồng Hạnh chắc cũng đoán biết rằng một lác nữa đây tôi rất có thể sẽ phải âm thầm trốn ra bến xe để về lại trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc, cái tổ ấm của tôi, cái nơi tôi thấy thật yên bình, cái nơi mà mẹ tôi rất vui khi bà có dịp lên thăm và cái nơi mà tôi có rất nhiều điều để viết ra mãi tận về sau này.

                                                     Rạch Giá Apr 30, 2011
                                                                   Ngọc Thành  

HONG HANH- 1

Ngoài những chuyến đi từ cổng trường Nông Lâm Súc theo Cậu Doãn đón xe đò lên nghe nhạc Lê Uyên Phương tại quán Lục Huyền Cầm, tôi còn có một người đặc biệt từ Cần Thơ ghé thăm và đưa tôi thẳng lên Đà Lạt bằng xe hơi.
     Một ngày nắng ấm tháng 3 năm ấy, thật chẳng khó khăn gì với Hồng Hạnh để tìm ra tôi trưa hôm Chủ nhật đó khi tôi đang học trong trường- nhưng thật khó cho tôi để từ chối lời mời của nàng đi Dalat, nhất là phải bỏ một buổi tối học tại nhà. Hạnh tha thiết hơn bao giờ hết,
“Hạnh muốn mời anh Thành lên đó cho biết chỗ Hạnh ở. Sau này có cần gì, anh cứ lên đấy nhé.”
Bà Hương, mẹ nàng, với chất giọng Bắc nhẹ nhàng, nói thêm vào để lung lay tôi,
“Cháu là người Hạnh thân nhất. Biết cháu học trên này, Hạnh nằng nặc ghé tìm cháu và sáng sớm mai bác tài xế đây sẽ đưa cháu về lại Bảo Lộc nhé.”
Bao nhiêu cặp mắt của “dân áo nâu ăn cơm tháng” tại quán cơm Thiện và café Ngọc Lan đổ dồn vào chúng tôi khiến tôi nóng lên như đang đá banh giữ trưa nắng gắt khiến tôi quên mất rằng trong đầu tôi có một ánh mắt buồn bả lo lắng của mẹ tôi. Gởi mấy cuốn sách lại cho Tài Bột, quên cả chào nó, tôi vội bước lên xe và đóng xầm cửa lại, như đóng ập lại những ẩn ức, bức xúc những điều chất chứa lâu nay trong tôi, khi có rất nhiều tiếng trầm trồ của chiếc áo nâu đang đứng bên lề đường và trước các cửa quán hai bên đường.
    Vừa liếc mắt nhìn tôi, mỉm cười tươi như hoa, Hồng Hạnh xuýt xoa và vừa nói vừa lúc lắc, ngoe nguẩy cái ngón tay trỏ về phía tôi,
“Không ai còn nhìn ra Lương Ngọc Thành nữa đâu nhé!?”
Như chuẩn bị sẳn từ lúc nào, Hạnh lấy ra bức ảnh trắng đen khổ 9x6 đưa cho tôi xem,
“Thành còn nhận ra ai trong ảnh này không?”
Trông thấy thật tội nghiệp, nhỏ thó đứng giữ Cô Thủy và Hạnh, tôi của ngày ấy- lớp năm trường tiểu học Tham Tướng, Cần Thơ- 7 năm trước đây - thật quá khác biệt so với tôi bây giờ, người đầy đặn, trắng trẻo. Hạnh cười vui như vừa được trao món quà mà nàng rất đắc ý,
“Thành giữ nó đi làm kỷ niệm.”
Không màng đến sự có mặt của mẹ, Hạnh không giấu diếm những nỗi vui mừng được gặp lại tôi. Như là người bạn học cũ, từ lâu nay nàng phải dọ hỏi, tìm hiểu và đã đến thăm cô Thủy, đến tận nhà tìm tôi vài lần mỗi khi có dịp trở về Cần Thơ. Mừng vì có bạn cũ của tôi đến thăm, mẹ tôi đưa cho nàng xem cái phong bì có in hàng chữ Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc- bên phía trái theo hàng dọc. Sau khi hỏi thăm một vài tay mặc áo nâu nào đó đứng trước cổng, chú tài xế đã lái xe vào trong trường, dừng trước dãy A, trước lớp, trong khi tôi đang đứng trên bục gỗ giải toán một mình. Hai mẹ con nàng ngồi im lặng trên xe nhìn tôi lắc đầu thán phục trong khi chú tài xế đi nhẹ nhàng đến trước cửa gọi tên tôi. Hạnh đã trước đó nhiều lần kể cho mẹ nàng khá nhiều về tôi và về những ý định của nàng. Giờ đây rất tha thiết, nhẹ nhàng, Hạnh hỏi nhỏ tôi,
“Thành có cần Hạnh giúp gì không? Đừng ngại nhé.”
Tôi rất cảm kích sự chăm sóc, thân thiện, gần gủi của Hạnh từ cái ngày tôi bị trúng gió 7 năm trước trong giờ ra chơi khi tôi đã được cô Thủy và nàng tận tình chăm sóc. Tôi còn giữ thật cẩn thận cây viết Pilot nàng tặng tôi ngày chia tay năm học hết lớp năm. Tôi còn nhớ cái mùi độc đáo “Pall Mall”, cái làn khói mỏng mảnh ấy của điếu thuốc đầu tiên tôi hút ngay trước mặt nàng tối hôm đó. Làm sao tôi có thể quên cái hôm tôi, lần đầu tiên trước mặt nàng, trước khi tôi vào trung học đệ nhị cấp, cố ý làm cho nàng biết rằng tôi không còn là thằng nhóc nữa đâu đấy.
   Tôi bổng như rơi rụng vào một khoảng không gian thật rộng lớn của cái thời trẻ con “mặc quần xà lỏn đen, ngón tay trỏ xách tòn ten cái bình mực bằng nhựa” và “cái áo trắng cụt tay, ngắn củn cởn, điểm lấm tấm vài giọt mực.”-đi đến trường Tiểu Học Tham Tướng. Tôi hình dung ngay được cái vị bùi bùi béo béo của những hạt đậu đen trong ly đá đậu có nước cốt dừa lạnh teo. Tôi có thể mô tả cái ly “đá bào chan xi rô, nửa đỏ nửa xanh, mà tôi từng lè lưởi liếm láp mỗi đầu giờ học. Tôi không thể nào quên những miếng khô mực ngọt thơm với cái mùi tương ớt Hạnh đã chia cho tôi. Tôi thèm được ăn lại những đĩa gỏi đu đủ chua cay với mấy lác rau thơm xanh rì nổi bật trên nền gỏi trắng hồng và vài miếng khô bò đen xì. Tôi nuốt nước bọt khi tưởng tượng ra miếng cắn vào ổ bánh mì chan nước sauce ướt nhẹp có lần Hạnh bảo tôi thử. Tôi nhớ những cái đụng chạm vào vai Hạnh trên đường đi học về. Tôi nhớ ơi là nhớ những nụ cười của Hạnh khi có 10 điểm môn toán do copy bài của tôi, những giọt lệ trên gò má của Hạnh khi nàng cầm tờ giấy bài kiểm với con số 1 đỏ lè vừa giọt nước mắt làm nhòe trên góc trái của tờ giấy tập.
     Liếc nhìn quanh chiếc xe, nhìn cảnh vật chung quanh, nhìn lại mình, tôi như vừa biến thành một kẻ dân dã ngu si đang ngồi trên một cỗ xe với một nàng công chúa và hoàng hậu kẻ sẽ đưa tôi lên một khu đồi núi hoang vắng tĩnh mịch mặc dù sau cửa sổ những dảy đồi trà xanh dưới nắng sáng ấm chạy lùi lại. Màu xanh thẫm mát mắt thỉnh thoảng bị xen với màu vàng của vài khóm hoa Quỳ vàng lên lề đường. Cái biển báo đèo Prenn và cái áo khoát bằng da rộng mà Hạnh vừa choàng lên vai tôi vừa đưa tôi về thực tế. Hạnh, như một người chị lớn, dặn dò tôi, đứa em ngoan hiền đang học xa nhà,
“Thành phải giữ gìn sức khỏe mới học giỏi được. Nè! Còn hút thuốc không?”
Rút ra từ cái giỏ xách tay một gói Pall Mall, dúi vào túi áo tôi, Hạnh nói thật nhỏ vào tai tôi nửa đùa nửa thật với một chút trêu chọc,
“Khi nào lạnh, nhớ nhà, nhớ Hạnh, Thành mới được hút đấy nhé.”
Đờ đẫn như kẻ vừa bị ai đó hớp hồn, nhận lấy bao thuốc từ tay nàng, cúi gầm mặt xuống, tôi hơi cà lăm ,
“Cám ơn Hạnh nhe. Thành sẽ giữ nó hoài thôi.”
Bật cười thành tiếng, Hạnh nói rất tự nhiên,
“Hạnh sẽ gởi lên cho Thành hàng tháng mà.”
Bị giật mình, tỉnh ngũ, Bà Hương nhanh trí, phụ họa với cô con gái duy nhất, cái kho báu duy nhất, người bà yêu thương nhất,
“Hạnh rất giữ lời. Cháu cần gì cứ bảo cái Hạnh gửi lên cho. Đừng ngại.”
Cố gắng pha giọng Bắc, tôi nhẹ nhàng lên tiếng trả lời chung hai người,
“Thưa bác! Cháu rất cám ơn bác và Hạnh. Nhưng… nhưng mẹ cháu hằng tháng có gửi đủ rồi ạ.”
“Ai đâu mà biết học trò như cháu cần những thứ gì nào. Cứ bảo với Hạnh đi nhé! Không có gì cháu phải ngại cả nhé. Là người nhà cả mà. Thế nhé!”
Nghe mẹ nói thế, Hạnh nhoẻn miệng cười với tôi trong khi tôi thẹn thùng đỏ mặt tía tai vì tôi vừa nói dối- mẹ tôi chưa hề gửi cho tôi bất cứ thứ gì ngoài tấm “manda” hàng tháng. “Là người nhà cả mà” có ý nghĩa gì nhiều không? Bà Hương vừa biết tôi. Hạnh vừa gặp lại tôi sau 7 năm đấy thôi?! Cái không khí trong xe bổng nóng bừng lên nhất là khi tôi nhận ra Hạnh đang nắm tay tôi. Có một dòng điện vừa chạy nhanh vào mọi ngóc ngách trong cơ thể tôi như thể nước vừa dâng khắp các khe nức trên mặt đất ruộng khô cằn nhiều năm hè nắng hạn. Cánh đồng trong bổng chốc trở nên tươi tốt cho mọi thứ sinh vật, cây cỏ. Nước thiết yếu cho mọi sinh vật. Tình cảm, sự thông hiểu chăm sóc nhau, giống như nước. Sự tiếp xúc, đụng chạm thể xác, giống như một nhu cầu thiết yếu nào khác, trở nên quan trọng hơn nhiều thứ khác. Vốn đã thiếu tình thương, thiếu sự chăm sóc, tiếp xúc của mẹ và chị, nay tôi như một con bệnh được một y sĩ chăm sóc như ngày nào tôi được cô Thủy cạo gió Hồng Hạnh xức dầu và đưa tôi về nhà. Giờ Hạnh cần tôi hay tôi cần nàng. Giửa hai đứa tôi có một thứ ràng buộc gì đó không thể nhìn thấy, không thể mô tả được như thực vật cần thán khí còn loài người cần cái dưỡng khí do thực vật thải ra vậy. Chúng tôi có một điểm chung như mọi người có: “tình yêu thương mẹ.”
    Trên một dốc thoai thoải, bên lề đường, mẹ tôi bổng hiện ra, vẩy tay như gọi xe dừng lại. Bà nhìn tôi buồn bả và tôi ấp úng vì đó là lần đầu tiên tôi bị mẹ bắt tận tay- trốn học. Cái tốt xấu, thiện ác đang nổ ra trong tôi và câu nói của thầy Vũ Thủy, “Cái hạ ngã luôn kéo ta xuống…” Xe đang lên đèo. Hồng Hạnh và mẹ nàng đưa tôi lên Dalat hay tôi đang bị họ kéo xuống vực xâu. Mẹ ơi! Mẹ có biết không?
                                                (Còn tiếp)
                                                                                Rạch Giá Apr 29, 2011
                                                                                                   Ngọc Thành

ĐIẾU THUỐC ĐẦU TIÊN

    Những ai hút thuốc lá đều có riêng một lý do kể cả tôi, nhưng thường thì họ không nhớ rỏ ngày giờ và cái nguyên cớ khiến họ châm điếu thuốc đầu đời ấy. Tôi quan niệm rằng điếu thuốc đầu tiên cũng đáng nhớ như biết bao là ký ức khác trong thuở thiếu thời hoặc trong lúc cắp sách tới trường.
    Tôi học lớp Năm 3 tại trường Tiểu Học Tham Tướng, Cần Thơ. Một phần ba học sinh trong lớp tôi học khá giỏi. Tôi may mắn được ở trong nhóm đó. Một buổi chiều chuyển mưa, tôi bị một cơn cảm lạnh đột ngột. Tôi thấy trời đất quay cuồng khi đang đứng nhìn cả lớp đùa giởn trong giờ ra chơi. Hồng Hạnh, đang đứng cạnh tôi nhận ra sự khác thường trên gương mặt của tôi.
“Thành ơi ! có sao không? Ai chạy đi kêu cô giùm coi?”
Hạnh và một ai đó tôi không nhận ra dìu tôi vào lớp trong khi cô Thuỷ đã được báo tin rằng tôi bị trúng gió.
Cô Thuỷ lớp tôi nổi tiếng là hiền thục, khó khăn, dạy giỏi và cạo gió hay nữa. Cô gom tất cả các chai dầu gió của học trò trong lớp. Tôi được cô bắt đứng úp mặt xuống bàn và bị cởi trần. Bốn năm học trò được cô chỉ định lên để kềm tay khoá chân tôi lại. Hạnh xung phong làm người thoa dầu để cô Thuỷ chỉ có cạo và cạo. Tôi như con lươn bị cạo sạch nhớt trước khi bị đem ra xào nấu. Tôi không biết thợ nấu sẽ là ai, nhưng cô Thuỷ đang là thợ cạo. Đồng 50 xu bằng nhôm với cạnh sắc bén, được cô Thuỷ miết sát trên da lưng, liên tục được Hồng Hạnh bôi trơn bằng dầu gió. Trời tối sầm vì các đám mây đen ngòm. Da lưng tôi cũng chuyển thành màu bầm đen. Mỗi cái sấm chớp bên ngoài trời như mỗi nhác cạo như xé da thịt. Mỗi lần cô miết kéo mạnh cái đồng 50 xu đó là mỗi lần tôi uốn éo cái lưng hoặc kêu gào lên đau đớn. Sau hơn nửa giờ ra tay, cô Thuỷ kêu người gọi xe xích lô để đưa tôi về nhà sau khi cạo xong và cũng chính tay Hạnh với cô đưa tôi lên xe. Hạnh thản nhiên chen lên ngồi kế tôi như một người chị gái cũng như nảy giờ đã vuốt ve, đã xức dầu và đã phụ giúp cô cạo tôi cho đến khi tôi “hết gió”.
  Tôi cảm phục Cô Thuỷ và Hồng Hạnh. Tôi bị Hạnh làm choáng ngợp, cái cảm giác tiếp xúc rất con gái của Hạnh. Chúng tôi thân với nhau hơn và từ đó tôi giúp Hạnh viết bài, cho Hạnh xem các bài luận văn của tôi và đến một ngày kia Hạnh cho tôi xem hình của bạn trai của nàng. Hắn ngồi cười rất tươi trên bàn cà phê, trên bàn tay phải thon đẹp thư sinh là một điếu thuốc lá, toả khói. Liếc nhìn tấm hình, Hạnh không chút ngại ngùng kể cho tôi nghe về hắn:
“Ảnh đang học lớp đệ tam. Ảnh học giỏi mà chơi đàn rất hay nữa. Ảnh ít khi gặp được Hạnh lắm. Lâu lâu ảnh dắt Hạnh đi uống càphê. Ảnh hút thuốc Pall Mall không à?”
Tôi thấy mình như một thằng nhóc con, hỉ mũi chưa sạch. Thằng nhóc chẳng biết thế nào là hút thuốc lá thế nên làm sao nó có một cô bạn gái để dắt đi uống cà phê được cơ chứ. Lòng tự ái ở trong tôi  nỗi lên như một cơn sóng thần- đập vỡ mọi thứ trên đường nó đi qua. Nó phá tan mọi tiền lệ, định kiến, mọi ràng buộc, mọi áp đặt.
   Hồng Hạnh lớn hơn tôi hai tuổi. Ba má nàng ly dị nhau khi nàng còn tấm bé. Từ Sài Gòn hai mẹ con Hạnh về lập nghiệp ở Cần Thơ sau khi mẹ nàng gãy đổ hôn nhân lần thứ hai và nhất là khi ông bố dượng có vẻ muốn xàm xỡ với nàng. Cuộc sống một mẹ một con khiến nàng dạn dĩ trưởng thành hơn trước tuổi. Nhà của nàng là một quán cà phê khá nổi tiếng ở khu vực này. Thỉnh thoảng nàng phụ với mẹ trông coi quán. Hắn ta- Dũng Tiến- là một trong những khách hàng quen thuộc. Một thanh niên, khá điển trai, biết âm nhạc, có vẻ lỏi đời, có bạn gái sớm như hắn là điều dể hiểu và cũng dể hiểu tại sao một thằng nhóc tì, như tôi, con nhà nghèo chẳng hiểu biết gì về cái thế giới của thanh niên. Tôi cảm thấy như có một giòng máu nóng chạy thật nhanh vào cơ thể. Tôi thấy như có ai đó bơm cho tôi một liều thuốc kích thích hay một loại phân hoá tố nào đó khiến tôi như lớn hẳn lên vậy. Hạnh thường kể cho tôi nghe việc Dũng Tiến đã hút thuốc như thế nào.
    Sách học và trường học đâu có dạy được những điều ấy. Thầy cô chưa hề nói ra những từ vựng mà người đời thường hay nói. Sách vở chứa đựng quá nhiều điều hay, nhiều chuyện đẹp, thế còn chuyện đời với những sự thật phủ phàng, xấu xa, những con người bỉ ổi, đốn mạt, những trò lừa phỉnh, lường gạt nhau? Hồng Hạnh và tôi có chung một điều muốn tìm hiểu: “Tại sao ba chúng tôi đã bỏ đi?”. Tôi có một thắc mắc: “Tại sao đàn ông thanh niên hút thuốc? Tại sao Hạnh thích cái tên Dũng Tiến kia mà không phải là ai khác?”  
    Hạnh thân với tôi nhất trong lớp. Nàng cho tôi ăn quà nàng mang theo trong cặp. Nàng mua cho tôi những ly đá đậu pha xi rô. Màu nâu của những hạt đậu quyện với màu đỏ tươi rất bắt mắt của nước xi rô màu đỏ tươi. Mỉm cười với tôi rất duyên dáng, nàng trao tôi ly nước và tôi như té lọt, chết đuối vào trong cái ly đá đậu lạnh teo và ngọt lịm đó. Nàng rủ tôi đội chung áo mưa với nàng trên đường về. Tôi thấy nóng bừng bừng như người đang lên cơn sốt rét khi mà cái vai hoặc lưng áo trắng hồng của nàng chạm vào người tôi. Nàng, lớn tuổi nhất trong lớp, ngồi bàn cuối cùng trong lớp, lạc lỏng nhất trong lớp học. Thằng nhóc ốm yếu được nàng chăm sóc như một thằng em hôm nào bị trúng gió nay thành một người bạn trẻ, người có thể chia xẻ được nhiều điều với nàng. Tôi muốn mình lớn nhanh lên để được ngồi cạnh nàng. Tôi muốn thỉnh thoảng bị trúng gió để Cô Thuỷ và Hạnh chăm sóc. Tôi bổng thấy yêu những ngày đi học. Tôi quý trọng công dạy dỗ, công cô cạo gió hôm nào của cô Thuỷ. Tôi còn hình dung được cái những cái xoa vuốt êm ái của bàn tay nàng- nóng và êm êm đến rợn người. Tôi tự dưng thương lớp, thương trường. Tôi nhớ tiếng trống giờ ra chơi, tiếng trống tan học. Tôi cảm được cái mát dịu khi chúng tôi đứng núp nắng dưới tàng cây bàng khá to ở góc phải của lớp tôi. Tôi có thể vẽ ra chiếc xe Suzuki nữ của cô Thuỷ và mô tả một cách tỉ mỉ cái cách cô dắt xe ra khỏi cổng trường. Và tôi nhớ rỏ ràng như vừa mới xem cái hình của chàng Dũng Tiến đẹp trai mà Hạnh tươi cười hạnh phúc khoe với tôi. Tôi để ý đến điếu thuốc hắn kẹp trên hai ngón tay một cách điệu nghệ.
     Tôi hoặc ít nghe Hạnh kể về Dũng Tiến hoặc tôi cũng ít dám hỏi nàng về hắn. Giửa hai đứa tôi có một cái gì khó diển tả. Nhưng tôi có thể cảm thấy nhớ nàng mỗi khi nàng vắng mặt. Tôi thấy xốn xang khi nàng nói chuyện huyên thuyên với đứa con trai nào khác. Tôi thấy hồi hộp, lo lắng cho nàng mỗi khi nàng bị cô gọi trả bài. Mặt tôi nóng bừng bừng khi nàng cầm tay tôi, hoặc nàng vổ nhẹ vào vai tôi. Cái cảm giác rất nhanh như một điện ấy cứ lập đi lập lại khi chúng tôi đi bên nhau, tay nàng vô tình chạm vào tay tôi. Tôi có khi- thật trẻ con- mong sao cho cái năm học lớp năm này kéo dài mãi mãi. Tôi có khi- thật ngây ngô- muốn mình thành con gái để thật thân với nàng. Tôi có khi- thật ngông- muốn hút thuốc trước mặt nàng.     
     Chúng tôi- Hạnh và tôi- chia với nhau nhiều thứ nhưng có một thứ mà tôi không thể chia cho nàng: sức học của tôi. Em trai tôi đã bỏ học và điều ấy như ép tôi học chăm lên hai ba lần. Mẹ tôi đã khóc nhiều đêm với em tôi. Mẹ tôi đã bỏ cơm chiều thường xuyên kể từ khi nó bỏ học, đi chơi về trể. Tôi âm thầm muốn làm mẹ tôi ngạc nhiên, hảnh diện và hạnh phúc. Cái cách duy nhất mà khi ấy tôi có thể làm được đó là: Thi đậu vào lớp Sáu trường công lập- Phan Thanh Giản- có tiếng nhất ở miền Tây- Tôi thường nghĩ về Hạnh bất cứ khi nào tôi nghe nói về cuộc đời, phụ nữ hoặc về gia đình. Tôi thầy mình trưởng thành nhanh hơn những đứa con trai khác trong lớp và tôi tiến gần tới Hạnh hơn.
  Trong ngày chia tay lớp học, cô Thuỷ rưng rưng nước mắt. Cả lớp tôi ai nấy đều đưa tay lên chùi nước mắt khi chuyền nhau những cuốn lưu bút. Tôi là người duy nhất được cô khen vì tôi vượt trội lên vào cuối năm. Tôi là người được cô nhớ nhất vì cái lần cô cạo gió cho tôi. Cô chúc tôi và rất tin là tôi sẽ thi đậu. Tôi là người duy nhất được Hạnh tặng cây viết Pilot với cái ngòi viết mạ vàng. Tôi cũng là người duy nhất được Hạnh mời đi ăn chiều tối hôm ấy. Trong cái tiệm mì vịt tiềm gì đó- ồn ào- gần bến Ninh Kiều, chúng tôi là hai thực khách nhỏ tuổi nhất. Tôi mời nàng sang một quán cà phê cách đấy không xa- yên tỉnh- để chúng tôi có dịp nói chuyện và chia tay nhau. Trước khi nói với nàng câu nàng muốn nghe, tôi đã đi đến cái quầy để hỏi mua một điếu thuốc Pall Mall. Châm thuốc, hít một hơi ngắn, kẹp điếu thuốc giửa hai ngón tay, tôi cố gắng hết sức bình tỉnh để nói nhỏ với nàng:
“Thành sẽ không bao giờ quên Hạnh.”
   Tôi nắm chặt bàn tay nàng khi tôi vừa thấy hai giọt nước mắt trào ra, lăn dài xuống đôi gò má tròn trỉnh xinh xắn có điểm một chút phấn hồng. Tôi tiếp tục hút hết điếu thuốc trong khi nàng, để yên bàn tay cho tôi nắm, im lặng nhìn tôi như không biết nói ra điều gì hoặc vì có quá nhiều điều muốn nói.  

                                                           Rạch Giá 28-03-10
                                                                                  Lưong Ngọc Thành